Hải quan đối thoại doanh nghiệp Nhật Bản, gỡ vướng 19 vấn đề
- 24/09/2026 09:29 SA
Ngày 23/9/2026, Cục Hải quan tổ chức Hội nghị đối thoại định kỳ quý III/2026 với Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JCCI), tập trung trao đổi, giải đáp 19 vấn đề doanh nghiệp kiến nghị liên quan đến trị giá hải quan, phân loại hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp chế xuất, quản lý hóa chất và hệ thống công nghệ thông tin.
![]() |
| Ngày 23/9/2026, Cục Hải quan tổ chức Hội nghị đối thoại định kỳ quý III/2026 với Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JCCI). Ảnh: Cục Hải quan |
Theo ông Kim Long Biên, Trưởng Ban Pháp chế (Cục Hải quan), một trong những vấn đề được doanh nghiệp Nhật Bản quan tâm là cách xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu khi một số khoản chi phí chưa có giá trị thực tế tại thời điểm khai báo.
Cục Hải quan làm rõ, trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu là giá bán tính đến cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm quốc tế và phí vận tải quốc tế; việc xác định phải dựa trên chứng từ, tài liệu, số liệu khách quan, định lượng được. Người khai hải quan tự kê khai, tự xác định và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung khai báo.
Đối với các trường hợp hàng xuất khẩu theo những điều kiện giao hàng khác nhau, doanh nghiệp được hướng dẫn phối hợp với đối tác nhập khẩu hoặc các đơn vị cung cấp dịch vụ logistics, đại lý hải quan để có thông tin về chi phí thực tế và chứng từ liên quan trước khi khai báo. Nếu trị giá hải quan chưa được xác định đúng, người khai hải quan thực hiện sửa đổi, bổ sung theo quy định đối với từng tờ khai xuất khẩu.
Ở nhóm vấn đề về phân loại hàng hóa, doanh nghiệp sản xuất vít phản ánh việc khách hàng yêu cầu áp mã HS theo công dụng của sản phẩm, trong khi doanh nghiệp cho rằng mặt hàng cần được phân loại theo đặc điểm của chính sản phẩm.
Cục Hải quan cho biết, việc phân loại được thực hiện trên cơ sở hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và thông tin liên quan để xác định tên gọi, mã số hàng hóa. Với mặt hàng vít được doanh nghiệp cung cấp thông tin, cơ quan Hải quan xác định phù hợp phân loại nhóm 73.18 và thuộc phạm vi “bộ phận có công dụng chung”, kể cả khi được sử dụng làm linh kiện, bộ phận của máy in, máy đo huyết áp hoặc máy móc, thiết bị khác.
Đối với doanh nghiệp chế xuất và doanh nghiệp ưu tiên, một số kiến nghị tập trung vào cách thức giao nhận hàng hóa và khai báo hải quan. Theo hướng dẫn, trường hợp hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ được giao nhận nhiều lần trong một thời hạn nhất định theo cùng hợp đồng hoặc đơn hàng giữa doanh nghiệp ưu tiên và đối tác, doanh nghiệp có thể thực hiện giao hàng trước, khai hải quan sau; việc khai báo được thực hiện trong thời hạn tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày giao nhận hàng hóa.
![]() |
| Doanh nghiệp Nhật Bản nêu kiến nghị 19 vấn đề. Ảnh: Cục Hải quan |
Cơ quan Hải quan chỉ kiểm tra chứng từ liên quan đến việc giao nhận, không kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp thuộc quy định này.
Với quản lý hóa chất, doanh nghiệp Nhật Bản đặt vấn đề về yêu cầu khai bổ sung mã CAS. Cục Hải quan làm rõ việc yêu cầu bổ sung mã CAS không áp dụng đối với mọi lô hàng mà được thực hiện trên cơ sở xác định rủi ro hoặc dấu hiệu vi phạm theo các trường hợp đã hướng dẫn.
Trường hợp hàng hóa phải kiểm tra, phân tích, giám định để xác định điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu, việc thông quan được thực hiện trên cơ sở kết luận kiểm tra, phân tích, giám định hoặc thông báo miễn kiểm tra theo quy định.
Một vấn đề khác liên quan trực tiếp đến quá trình làm thủ tục là tình trạng phản hồi chậm của hệ thống VNACCS/VCIS vào một số thời điểm. Cục Hải quan cho biết hệ thống hiện hoạt động liên tục, ổn định, đáp ứng việc đăng ký tờ khai xuất nhập khẩu với trung bình khoảng 65.000 tờ khai/ngày.
Đối với tình trạng phản hồi chậm mà doanh nghiệp phản ánh, nguyên nhân có thể liên quan đến tốc độ xử lý của phần mềm phía doanh nghiệp hoặc đường truyền kết nối giữa doanh nghiệp và cơ quan Hải quan qua môi trường internet tại thời điểm xử lý tờ khai.
Theo Cục Hải quan, việc trao đổi trực tiếp từng nhóm vướng mắc tại hội nghị giúp doanh nghiệp có thêm cơ sở thực hiện thủ tục thống nhất, đồng thời tạo kênh để cơ quan Hải quan tiếp nhận những vấn đề phát sinh trong thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu, qua đó phục vụ quá trình hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp.